Bài
này nhằm t́m hiểu Phong trào Văn Thân, nhưng để thấy có sự khác biệt giữa hai
phong trào, trước hết, xin tóm tắt vài hàng về Phong trào Cần Vương.
1. Phong trào Cần Vương
Vua Hàm Nghi bị quân Pháp bắt tại Quảng B́nh (Tranh vẽ. Nguồn: bellindochine)
Ư nghĩa và nguồn gốc:
Phong trào Cần Vương ra đời năm 1885, sau Phong trào Văn Thân khoảng 20 năm.
Cần vương có nghĩa là giúp vua. Vua đây là vua Hàm Nghi.
Phong trào Cần Vương là phong trào sĩ phu khắp nơi, hưởng ứng Dụ Cần Vương
(nguyên văn là Lệnh Dục Thiên Hạ Cần Vương) do vua Hàm Nghi ban ra, đứng lên
chống quân Pháp. Do đó, trên danh nghĩa, vua Hàm Nghi là thủ lănh của Phong trào
Cần vương.
Trong Dụ Cần Vương này có đoạn như sau: “ Chỉ v́ sức yếu nên ta phải chịu nhục
kư hoà ước (1884) với giặc Pháp đă bao nhiêu năm và bao nhiêu lần. Với chính
sách “tàm thực”, thoạt tiên chúng cướp ba tỉnh Nam Kỳ, c̣n ba tỉnh nữa sau hai
năm chúng cũng cướp nốt. Nhưng túi tham của quân cướp nước không bao giờ đầy.
Thế rồi chúng dùng thiên phương bách kế, khiêu khích, gây hấn khắp Trung Kỳ và
Bắc Kỳ...
Hỡi các trung thần nghĩa sĩ toàn quốc!
Hỡi các nghĩa dân hảo hán bốn phương!
Trước giờ Tổ Quốc lâm nguy, xă tắc nghiêng đổ, ai là dân, ai là thần, lẽ nào
chịu khoanh tay ngồi chờ chết?
Hăy mau mau cùng nhau đứng dậy, phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước...!”
(truclamyentu.info).
Đặc điểm:
Đặc điểm của Phong trào Cần Vương là các sĩ phu khắp nơi đáp lời kêu gọi của vua
mà đứng lên. Họ đánh Tây nhiều, sát tả ít. Lănh đạo Cần Vương ở Hương Khê là
Đ́nh nguyên Phan Đ́nh Phùng đă đưa ra chủ trương sáng suốt “Lương giáo thông
hành”.
Diễn tiến:
Đêm 05.7.1885, Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công đồn Mang Cá
của Pháp tại Huế. Cuộc tấn công thất bại, ông Thuyết đưa vua Hàm Nghi xuất
thành, chạy về chiến khu Tân Sở ở Quảng Trị. Tại đây, ngày 13.7.1885, nhà vua
ban Dụ Cần Vương. Do đó, trên danh nghĩa, vua Hàm Nghi là thủ lănh đầu tiên của
Phong trào Cần Vương.
Hưởng ứng Dụ Cần Vương, hàng chục cuộc khởi nghĩa chống Pháp đă nổ ra ở miền
Trung và miền Bắc:
Miền Bắc với Nguyễn Thiện Thuật ở Băi Sậy (Hưng Yên 1885-1889), “con hùm xám Yên
Thế” Hoàng Hoa Thám (1892-1913), Ba Bao ở Thái B́nh (1883-1887), Lănh Giang và
Đốc Khoái ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tuyên Quang (1892-1893), Lănh Pha ở Đông Triều
(1892-1893), Lănh Tánh ở Phú Thọ (1890-1893), Tạ Hiện ở Thái B́nh.
Miền Trung, nổi bật với Phan Đ́nh Phùng ở Hà Tĩnh (1885-1895), Phạm Bành, Đinh
Công Tráng, Hà Văn Mao ở Thanh Hóa (1885-1886). Ngoài ra, c̣n có các cuộc khởi
nghĩa khác với các thủ lănh như: Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doăn Nhă ở Nghệ An; Lê Ninh,
Ấm Vơ ở Hà Tĩnh; Trương Đ́nh Hội, Nguyễn Tử Nha ở Quảng Trị; Trần Văn Dư, Nguyễn
Duy Hiến ở Quảng Nam; Mai Xuân Thông, Bùi Biên, Nguyễn Đức Nhuận ở B́nh Định…
Tại Miền Nam, khi dụ Cần Vương ban ra, thực dân Pháp đă kiểm soát chặt chẽ khắp
miển Lục Tỉnh, cho nên ít có cuộc khởi nghĩa nào đáng kể nổ ra được.
Đêm 02.11.1888, vua Hàm Nghi bị tên phản bội Trương Quang Ngọc bắt nộp cho thực
dân Pháp và chúng đă đầy nhà vua sang Algérie. Từ đó, Phong trào Cần Vương yếu
dần.
Vua Hàm Nghi là linh hồn của Phong trào Cần Vương. Mất vua Hàm Nghi, phong trào
mất ư nghĩa chính thống, nhưng Phong trào Cần Vương chủ yếu là “b́nh Tây”, cho
nên vẫn tiếp tục hoạt động được một thời gian. Phong trào Cần Vương chỉ chấm dứt
ở miền Trung với cái chết của Phan Đ́nh Phùng năm 1895, và ở miền Bắc với cái
chết của “con hùm xám Yên Thế” Hoàng Hoa Thám năm 1913.
Đang khi đó, Phong trào Văn Thân mất chính nghĩa dân tộc do chủ yếu là “sát tả”,
cho nên đă lụi tàn nhanh chóng.
Lí do thất bại:
Sở dĩ Phong trào Cần Vương thất bại là v́ các cuộc khởi nghĩa mang tính cục bộ
và địa phương, chưa liên kết với nhau thành một lực lượng có hệ thống quy mô
toàn quốc.
Vũ khí, quân nhu, quân dụng của mỗi cuộc khởi nghĩa c̣n thô sơ, thiếu thốn, thua
sút quá xa so với quân Pháp.
Chiến thuật, chiến lược chưa thích hợp.
Chính trị quốc nội thất bại: Ḷng người li tán bởi v́, từ triều đ́nh xuống tới
hàng quan lại địa phương cũng như đa số các sĩ phu, đă thất sách trong việc đối
xử tàn ác và giết hại những người theo đạo Gia Tô. Chính sách đối với các sắc
dân thiểu số cũng sai lầm, khiến cho các sắc dân Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ …đi
theo Pháp và ngăn chặn con đường tiếp liệu vũ khí từ Trung Hoa.
Chính sách đối ngoại cũng phạm sai lầm lớn v́ hầu như chỉ biết cầu viện quân
Tầu. Vào thời điểm đó, Tầu cũng hèn yếu, đă không cứu nổi ḿnh th́ c̣n cứu được
ai. Hơn nữa, nước Tầu muôn đời nuôi mộng thôn tính nước ta, cho nên dù đang bị
liệt cường xâu xé, họ vẫn không ngừng nuôi mộng bá quyền. Một bằng chứng rơ ràng
là vào năm 1882, vừa khi thành Hà Nội thất thủ, Triều đ́nh Huế đă kêu cứu Bắc
Kinh, họ liền đem quân vào chiếm lấy các tỉnh phía Bắc sông Hồng của ta. (Xem
Nguyễn Xuân Thọ. Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt
2. Dẫn nhập Phong trào Văn Thân
|
|
Phong trào Văn Thân là phong trào quần chúng do các nho sĩ lănh đạo.
Mục tiêu của phong trào là “b́nh Tây, sát tả” để cứu nước.
Phong trào này phát khởi năm 1864 với cuộc băi thi của sĩ tử ḱ thi Hương tại
các trường thi miền Bắc và miền Trung, để phản đối triều đ́nh nhà Nguyễn kí Hiệp
ước năm Nhâm tuất (1862), nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam phần cho Pháp.
10 năm sau, 1874, Phong trào Văn Thân lại bùng phát dữ dội tại Nghệ Tĩnh (Nghệ
An, Hà Tĩnh) do ông tú Trần Tấn và học tṛ của ông là ông tú Đặng Như Mai lănh
đạo. Phong trào Văn Thân Nghệ Tĩnh là phong trào nhân dân tự phát, không phát
khởi do lệnh của vua; ngược lại, c̣n chống lại nhà vua, cho nên đă bị tiễu phạt
do quan quân của triều đ́nh.
Năm 1885, khi Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết, nhân danh vua Hàm Nghi, ban dụ
Cần Vương khai mở Phong trào Cần Vương khắp nơi, th́ Phong trào Văn Thân nương
theo chính nghĩa của Phong trào Cần Vương, lại chỗi dậy một lần nữa. Nhưng do
việc Phong trào Văn Thân chỉ lo sát hại người theo đạo Gia Tô một các bừa băi và
tàn ác, cho nên đă làm mất uy tín của Phong trào Cần Vương rất nhiều và không
bao lâu sau, đă bị Phong trào Cần Vương loại ra khỏi công cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp của toàn dân.
3. Văn thân là những ai?
Văn: Chữ, người có học thức (Nho học). Thân: Dải thắt lưng bằng tơ của các viên
chức xưa, chỉ thư lại, thân hào, các viên chức về hưu. Theo nghĩa rộng, Văn thân
là tất cả những ai có Nho học, từ vua quan cho tới dân. Theo nghĩa hẹp dùng cho
Phong trào Văn thân ở nước ta vào khoảng giữa thế kỉ 19 th́ Văn thân là các sĩ
tử, các nhân sĩ hay thân sĩ. Họ là dân sự, có Nho học. Họ là giới trung gian
giữa quan quyền với dân. Chỉ có họ mới đọc và hiểu được các lệnh lạc, các niêm
yết chốn công đường viết bằng chữ Nho và truyền dịch lại cho dân. Họ không là
quan, thấp hơn quan, nhưng có vị cao hơn dân, được dân kính trọng và nghe theo.
|
|
Sĩ tử là những khóa sinh theo đường cử nghiệp. Khóa sinh đă từng đi thi mà chưa
đậu đạt ǵ th́ gọi là thí sinh hay thầy khóa. Đậu Nhất trường kể như chưa có tên
gọi. Đậu Nhị trường có thể gọi là Nhị trường. Đậu Tam trường mới được gọi là Tú
tài. Dù đậu Tú tài, việc học vẫn c̣n dở dang, chưa được kể là đă xong nợ đèn
sách, chưa đủ điều kiện để ra làm quan. Dân chúng gọi các thí sinh đậu Tú tài là
ông tú hay thầy đồ. Các ông tú này là thành phần lănh đạo chính yếu của Phong
trào Văn Thân.
Nhân sĩ hay thân sĩ là những vị khoa bảng không chịu ra làm quan hoặc đă làm
quan nhưng từ giă quan trường.
Thông thường, các Văn Thân sống bằng các nghề dậy học, bốc thuốc, làm thầy bói,
viết đối liễn…Đời sống của họ tuy đạm bạc, nhưng họ là những người có uy tín và
dù thế nào họ vẫn cố gắng bảo vệ lấy cái danh dự của giới sĩ.
Cũng thuộc giới sĩ, nhưng không kể là Văn Thân, những sĩ tử đă đậu Tứ trường,
tức Cử nhân. Thường thường những ông Cử nhân có được một chức quan nhỏ, kèm theo
là địa vị và bổng lộc. Những ông quan này có thể có chính kiến giống như giới
Văn Thân, thù Tây, ghét đạo Gia Tô, nhưng v́ quyền lợi và chức tước địa vị, cho
nên hành động chính trị của họ có khi giống, có khi không giống như hành động
của giới Văn Thân. Nói đúng ra các quan cũng từng đi thi và đă đỗ đạt. Có thể
nói họ là Văn thân “đàn anh”, Văn thân “bề trên”. Đa số họ hành động chín chắn,
có trách nhiệm, theo luật pháp, chứ không tùy tiện, bừa băi theo cảm tính hận
thù riêng tư.
4. Tại sao Văn Thân “B́nh
tây Sát Tả”?
* V́ dị ứng do khác biệt văn hoá, bao gồm
phong tục, tập quán
|
|
Trong B́nh Ngô Đạo Cáo, Nguyễn Trăi viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn
xưng nền văn hóa đă lâu, Nước non bờ cơi đă chia, Phong tục Bắc (Tàu)
Để h́nh thành một nền văn hóa riêng, người Việt cần có ngôn ngữ hay tiếng nói
riêng của người Việt. Rồi cũng nhờ có tiếng nói Việt, đă giúp cho việc trao đổi,
phát triển, ghi nhận, diễn tả và lưu truyền nền văn hóa đặc thù của người Việt
được dễ dàng. Do đó, có thể t́m thấy các sinh hoạt văn hóa của người Việt trong
các truyền thuyết, huyền sử, truyện cổ, tục ngữ, ca dao, tức là kho tàng văn
chương truyền khẩu, kho tàng văn chương b́nh dân (chưa cần tới chữ viết).
Nhờ có nền văn hóa riêng mà người Việt ǵn giữ được truyền thống Việt, tinh thần
Việt kinh qua biết bao thăng trầm của lịch sử.
Ngoài nền văn hóa đặc thù ấy ra, người Việt c̣n đón nhận thêm nền văn hóa, văn
minh Trung Hoa. Thật vậy, nước ta bị Tầu đô hộ cả ngàn năm; họ đă để lại dấu ấn
sâu sắc về đủ mọi phương diện trong nền văn hóa nước ta. Đặc biệt là việc du
nhập Tam giáo: Khổng, Lăo, Phật. Với tinh thần bao dung, rộng mở, người Việt đă
biến Tam giáo thành “Tam giáo đồng nguyên”.
Tam giáo đồng nguyên cùng với Nho học đă dần dần ḥa nhập với nền văn hóa đặc
thù, cố cựu của người Việt để trở thành cái mà sử gia Trần Trọng Kim (1883-1953)
gọi là “cái quốc túy của ḿnh” (Tựa cuốn Việt Nam Sử Lược, 1919).
Cách nghĩ và lối sống của người Việt đă thành nền nếp hàng ngàn năm như thế, đột
nhiên phải va chạm với một hệ tư tưởng và nếp sống xa lạ, tức đạo Gia Tô, do các
giáo sĩ Tây phương mang tới.
Các nhà truyền giáo đă mang tới một đạo giáo mới lạ về giáo thuyết, kinh sách,
cơ cấu tổ chức, nghi lễ phụng tự, nghi lễ phong tục (tang chế, cưới hỏi…), các
thứ cấm kị. Trong số những điều mới lạ ấy, một số chỉ gây ṭ ṃ, thắc mắc cho
người Việt bản xứ, nhưng cũng có những cấm cản làm cho một số thành phần người
Việt bất b́nh, như cấm đa thê, cấm tảo hôn, cấm li dị, sự khắt khe trong hôn
nhân khác tôn giáo, cấm dự phần vào các nghi lễ cúng kiếng…
Số tín hữu Gia Tô lúc đầu tuy c̣n ít ỏi, nhưng khi theo đạo mới, họ tuân giữ
nghiêm ngặt các điều được dậy bảo. Họ từ bỏ một số phong tục, tập quán cũ; rồi
dần dần trở thành những nhóm nhỏ, thành những làng đạo sống khép kín, tự cô lập
giữa đa số đồng bào ḿnh. Hậu quả là họ phải hứng chịu phản ứng nghi ngờ, đố kị
của đa số đồng bào.
Nói tới dị ứng và bất b́nh văn hóa đương nhiên thành phần có học, tức là các nho
sĩ, các Văn Thân, là những người hiểu biết và ư thức hơn trong xă hội, sẽ là
thành phần phản kháng đầu tiên.
* V́ hận thù do các vụ việc liên quan tới
tín ngưỡng và tôn giáo
Đây là lí do đặc biệt nghiêm trọng. Có thể kể ra một số vụ việc như sau:
Một là, thái độ quá nhiệt t́nh “đi chinh phục các linh hồn” của các giáo sĩ đă
làm cho người bản xứ cảm thấy như đang bị xâm lăng, bị tấn công, bị “thực dân”
(thế kỉ 19), mặc dù phải nh́n nhận là các vị “đầy thiện chí, quả cảm, hy sinh,
bất chấp mọi ngăn trở, dám chết cho đức tin.” (Đỗ Quang Chính, S.J. Đôi Nét Lịch
Sử Giáo Hội Công Giáo. Niên Giám 2004 GHCGVN. Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2004. Trang
41).
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Trần Vinh (Tháng 3.2013)
Chú thích:
1. Tham khảo Phạm Văn Sơn. Sđd., trang 150, 154,155. Coi thêm: Phan Phát Huồn.
Việt
2. Tổng kết tổn thất giáo dân phải chịu trong giai đoạn này, Lm. Vũ Thành viết:
“Tại Quảng Nam, quan đă bắt Đức Cha
Charbonnier, Thừa Sai Vancamelbeke, ba linh mục Việt và nhiều thầy giảng. Họ
đánh đập và giam giữ nhiều ngày. Tại Nghệ An, Vũ Trọng B́nh, Nguyễn Tri Phương
và Phan Huy Vịnh tỏ ra thù nghịch với Công Giáo để cho nhóm Văn Thân đốt phá bốn
chục họ đạo. Tại
3. Xem Phan Phát Huồn. Việt
4. Trong dân gian xứ Nghệ, vẫn truyền tụng những bài vè kể lại cuộc nổi dậy và
bách hại đạo của các Văn Thân một cách sống động:
Văn Thân xứ Nghệ dụng t́nh âm mưu
Tú Trần, Tú Đặng th́ đầu
Tú Vinh, nho Thiệu cùng nhau ăn thề.
Đầu năm Giáp Tuất kéo cờ
"B́nh Tây sát tả" chữ đề không sai
Phen này sống mái một hai
Nghệ An, Hà Tĩnh ai ai nức ḷng
Nho Đắc th́ ở phủ Bùng
Truyền cho nho Phổ cũng đồng nhất tâm
Tưởng là hồi phục nước
Nỏ hay nhà Nguyễn đa đoan hại ṇi
Truyền cho đại tướng Hồ Oai
Kéo quân dư vạn, khâm sai tiễu trừ.
………………………………………..
Nho Năm, nho Hướng đôi chàng.
Tú Mai, đội Lựu là làng văn thân.
Cố bang, cố ở đạ cân.
Ḷng giời chẳng giúp chẳng mần nên chi.
Kéo lên chợ Rạng một khi.
Ba vạn chống nốc, cố th́ sang Giăng.
Đồn đây tà đạo mấy thằng,
Đem ra ta chặt thủ quăng xuống rào.
Sao mà chẳng chộ giáo mác siêu đao hai hàng ?
Gửi tờ nho Hướng, cố Bang
Để
ta sát tả gươm sang bên đời
Sát tả mới được vài ba nơi
Xổ kỳ Truông Ná đổ người về đông
Sát tả mới được vừa xong.
Kéo ngang qua cửa cực ḷng văn thân.
Cực ḷng cố chạy công văn
Kéo xuôi ta đánh bắt thằng tác vi
Quân thời ta chém quách đi
Lưa một thằng tướng đem về đây tau
Đem về được mấy ni lâu
Đem ra ta chặt, chuộc đầu chẳng cho
Tưởng hồ hai huyện ra tṛ.
Cố đặt cai đội, cố cho thông hành
Nam Đường mới lấy phủ Anh
Thanh Chương lấy huyện cho thành công chi
Cố sai một tiếng ra hai
Kéo ra phủ Diễn thật tài anh linh
Trống đánh cờ mờ dập d́nh
Ta chộ phủ Diễn ta kinh không vào
Phủ Diễn cổng kín thành cao
Nạp súng ta bắn cho trào thành ra.... (Tcnao.net (vietnc)
5. Trong cuốn Ḍng Máu Anh Hùng, Lm. Vũ Thành viết: “Theo tường tŕnh của Đức
Cha Puginier, Giám Mục Hà Nội, th́ từ tháng 3-1883, Hà Nội, Nam Định và Hải
Dương bị cướp phá. Nguyên tháng 12 ở Hà Nội có 300 làng, tức là 1/3 bị phá.
Trong các làng toàn ṭng Công Giáo th́ có 4 làng bị hủy diệt, 15 làng khác bị
cướp. Tại Thanh Hóa, hai trong sáu xứ bị hủy diệt, 242 nhà thờ và nhà nguyện bị
đốt cháy, 6 thừa sai, 11 linh mục và 63 thầy giảng cùng với 288 giáo dân bị thảm
sát” (Lm. Vũ Thành. Ḍng máu Anh Hùng. Sđd).
6. Ts. Trịnh Việt Yên tường thuật tổng quát về cơn bách hại người theo đạo Gia
Tô trong 2 năm này như sau: “Năm 1885 và
1886 là hai năm tang tóc nhất của Giáo Hội Việt Nam trên đường khổ nạn. Thật là
hai năm trên đỉnh núi Sọ! Những con số sau đây làm chứng điều đó:
Trong tỉnh Thanh Hóa từ thánh 3 đến tháng 9 năm 1885 hơn 1800 bổn đạo bị chém.
Và hơn 100 họ đạo bị phá. Khoảng giữa tháng 12. 1885 tại Quảng B́nh có hơn 2000
bổn đạo bị giết. Tháng 1.1886 lại thêm một cha và 442 bổn đạo bị chém chết và 10
họ đạo bị thiêu ra tro cùng 1800 người phải chạy sang Đồng Hới sống bơ vơ không
nhà ở, cơm ăn. Năm 1885, tỉnh Quảng Trị mất 10 cha, 8000 bổn đạo và 70 họ đạo.
Tám ngàn người sống sót phải chạy đến cầu cứu với Đức Cha Lộc (Mgr. Gaspard) ở
Huế. Qua năm 1886 lại có thêm 6000 người bị giết. Trong tỉnh Quảng
Nhưng số thiệt hại không nơi nào đau xót và nặng nề như trong tỉnh B́nh Định: 7
linh mục, 60 thầy giảng, 270 nữ tu Mến Thánh Giá và 24000 người bị giết. Các cơ
sở truyền giáo như ṭa Giám mục, nhà thờ, nhà xứ, hai chủng viện, một nhà in, 10
tu viện và 225 nhà nguyện bị thiêu tan. Tất cả 150 họ đạo bị đốt phá, chỉ trừ có
hai họ thoát nạn. Hơn 8000 bổn đạo chạy ra Quy Nhơn, phải đói khát hầu như chết
rũ, và Đức Cha Hân (Mgr. Van Camelbeke) phải sai mấy linh mục thân hành vào tận
Gia Định đong gạo để nuôi họ. Cách mấy ngày Đức Cha lại phải thuê một chiếc tàu
Đức Gerda chở những người đó vào Gia Định. Nhưng chỉ chở được 3000 người. Số c̣n
lại phải ở lại chơ vơ trên băi biển Quy Nhơn. Suốt một năm trời họ sống nheo
nhóc như những kẻ phải lưu đầy khốn khổ trăm chiều.
Về phía các thừa sai truyền giáo, chúng ta cũng đếm được gần 20 vị phải chết
đồng thời với giáo hữu trong những hoàn cảnh bi đát. Trong tỉnh Thanh Hóa thuộc
địa phận Tây Đàng Ngoài có 7 vị bị giết, đó là: Cha Khanh (Béchel), Châu
(Gélot), Nhân (Rival), Thiện (Manissol), Khanh (Séguret), Điều (Antoine), và
Tuân (Tamet).
Địa phận Đàng Trong mất 8 vị: Cha Tân (Poirier), Hoán (Guégan), Châu (Garin), Sĩ
(Macé), Chung (Barrat), Minh (Dupont), Thành (Tribarne) và Thuông (Chatelet)”.
(Trịnh Việt yên. Máu Tử Đạo Trên Đất Việt.
Chỉ nguyên đợt bách hại này, Lm. Vũ Thành ước tính: “Tổng cộng số giáo dân bị
giết có tới 40.000 người, 20 thừa sai, 30 linh mục Việt, hàng ngàn họ đạo bị
thiêu hủy” (Lm.Vũ Thành. Ḍng Máu Anh Hùng. Sđd.).